Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

Các công trình kiến trúc ở Chùa Cổ


Theo truyền thuyết ở làng Mèn xưa (tên Nôm của làng Mãn Xá) có nàng Man Nương-con của Tiên ông Tu Định-lên chùa học đạo. Một buổi sau khi quét dọn cửa chùa, Man Nương thiếp đi ngay lối ra vào. Đức Khâu Đà La đi giảng đạo về thấy vậy không nỡ đánh thức mà bước qua. Man Nương sau đó thụ thai và sinh hạ một bé gái.


Đức Khâu Đà La mang hài đồng đến gần một cây dung thụ (cây dâu), không ngờ “tán cây xòe xuống và đứa trẻ biến vào thân cây”! Về sau cây bị mưa bão làm đổ xuống sông và trôi về vùng Luy Lâu. Dân phu các làng xô nhau ra kéo nhưng không tài nào đưa được cây vào bờ. Man Nươngbiết chuyện liền ra sông. Như có sự giao cảm của tình mẫu tử, nàng quăng dải yếm ra và kéo được cây vào bờ trước sự kinh ngạc của bao người. Chuyện xưa còn truyền rằng hài đồng sau đó đã hiển linh thành Thạch Cao Vương Phật ngự tại chùa Dâu. Thân cây dung thụ được người đời tạc thành bốn vị thần Tứ Pháp tương ứng và được thờ tại chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng và chùa Dàn thuộc các xã Thanh Khương, Trí Quả, huyện Thuận Thành. Gia trang của bậc sinh thành Man Nương được xây dựng thành chùa và người đời sau thường nhắc đến chùa Tổ với xuất xứ “Cải gia vi tự”.


Chùa Tổ gắn liền với lịch sử phật giáo Việt Nam và là nơi xuất hiện sớm nhất các công trình kiến trúc nghệ thuật cổ như giếng nước, chuông, khánh đồng, bia đá và nhiều bản khắc gỗ. Tại chùa hiện vẫn còn một giếng cổ tương truyền do Man Nương cắm cây gậy tích trượng của Đức Khâu Đà La tạo thành để cứu mùa màng khỏi khô hạn.


Từ mọi miền xa xôi trên đất nước ta các thiện nam, tín nữ hàng năm cứ đến ngày 8 tháng 4 (âm lịch)  tấp nập hành hương về dự lễ hội chùa Tổ.


Chùa đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cỡ quốc gia vào ngày 20-4-2001.




Các công trình kiến trúc ở Chùa Cổ

Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2014

Cảnh đẹp Cát Bà – đắm say lòng người


Khí hậu trên đảo Cát Bà rất mát mẻ, trong lành, thích hợp cho du lịch nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Từ Hà Nội đến Cát Bà, khoảng 150km về phía đông, thuận tiện nhất là đi bằng đường bộ hay đường sắt đến Hải Phòng rồi từ Hải Phòng dùng ca nô hoặc tàu thủy ra đảo. Thuê một chiếc tàu du lịch, bạn có thể đi khắp vịnh Lan Hạ, ghé vào hơn 100 bãi tắm lớn nhỏ khác nhau, những bãi tắm cực đẹp với cái tên thật hấp dẫn: Cát Cò 1, Cát Cò 2, Bãi Ðá Bằng, Bãi Bến Bèo, Bãi Cô Tiên…


Thậm chí, bạn có thể vòng sang vịnh Hạ Long, cũng chỉ mất 4 đến 6 giờ để tha hồ ngắm cảnh và ghé thăm những bãi tắm không tên, những hang động kỳ thú còn chưa được đưa vào danh sáchkhai thác. Ngay ở đảo Cát Bà, bạn cũng có thể đi thăm động Trung Trang, động Hoa Cương, động Thiên Long, nơi hứa hẹn nhiều phát hiện lý thú.


Cát Bà là một cụm du lịch thiên nhiên, sinh thái không thể tách rời. Ở đây đã phát hiện được nhiều di tích khảo cổ học thuộc thời kỳ đồ đá mới, những di tích văn hoá Hạ Long và dấu vết của người Việt cổ. Ngày nay Cát Bà trở thành vườn quốc gia, bảo tồn trong lòng mình hệ sinh thái rừng nhiệt đới nguyên sinh. Biển Cát Bà có tới 300 loài cá biển, 500 loài thân mềm và giáp xác, trong đó nhiều loại có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất hàng mỹ nghệ quý như đồi mồi, tôm rồng, trai ngọc, san hô, vỏ trai, ốc biển…


Vườn Quốc gia Cát Bà vừa có rừng, vừa có biển với nguồn tài nguyên phong phú, cảnh quan đẹp và nhiều loại động thực vật quí hiếm. Tổng diện tích của vườn là 15.200ha, trong đó diện tích rừng núi là 9.800ha và diện tích biển là 4.200ha. Ðịa hình đa dạng, chủ yếu là núi đá vôi có nhiều hang động. Với độ cao trung bình là 150m, trong vườn còn có nhiều đèo nhỏ như đèo Ðá Lát, đèo Eo Bùa, đèo Khoăn Cao… và nhiều suối lớn quanh năm có nước như suối Thuồng Luồng, suối Treo Cơm, suối Việt Hải…Cát Bà hôm nay vẫn còn như một nàng tiên e lệ giữa biển khơi với dáng vẻ nguyên sơ, còn giữ được sức hấp dẫn với những truyền thuyết bao đời về bề dày lịch sử văn hoá của vùng đất này.


 




Cảnh đẹp Cát Bà – đắm say lòng người

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

Khu di tich các vua Trần, đền thờ các vị vua ở Thái Bình


Vị trí: Khu di tích các Vua Trần thuộc xã Tiến Đức và xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.


Đặc điểm: Khu di tích nhà Trần đã được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa di tích khảo cổ học cấp quốc gia.Nó chẳng những thu hút các nhà nghiên cứu sử học, các nhà văn hóa mà còn là một điểm du lịch có giá trị đặc biệt, là nơi liên quan đến cội nguồn dân tộc luôn luôn hấp dẫn du khách trong và ngoài nước về thăm.


Mảnh đất Hưng Hà – Thái Bình là nơi chứa đựng những dấu ấn lịch sử gắn chặt với triều đại nhà Trần (1226 – 1400), các vua khai sáng nhà Trần đều được sinh ra tại đây, gia tộc nhà Trần dựa vào đây dấy nghiệp. Khi đã thành vương triều Trần, vùng đất này được chọn làm nơi xây dựng các đền thờ, lăng tẩm của Hoàng tộc nhà Trần. 


Nơi đây có di chỉ khảo cổ mộ các vua Trần (xã Tiến Đức); khu lăng mộ thái sư Trần Thủ Độ, đình Khuốc, đình Ngừ thờ thái sư, mộ và đền thờ Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung (xã Liên Hiệp); Tam đường – là nơi lưu giữ hài cốt của các tổ tiên triều Trần như: Thuỷ tổ Trần Kinh, thái tổ Trần Hấp, nguyên tổ Trần Lý, thái thượng hoàng Trần Thừa … Các hoàng đế nhà Trần như Trần Thánh Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông cùng các hoàng hậu sau khi qua đời đều được quy về hợp táng tại các lăng mộ có tên Thọ lăng, Chiêu lăng, Dự lăng, Quy đức lăng…


Cùng với lăng mộ, nhà Trần còn cho xây dựng các cung điện như điện Tịnh Cương, điện Hưng Khánh, điện Thiên An, điện Diên Hiền.


Lịch sử Việt Nam thế kỷ 13, 14 (từ 1226 – 1400) gắn liền với công lao và sự phát triển rực rỡ của vương triều nhà Trần. Những chiến công lừng lẫy của 3 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông, cùng với các cuộc chinh phạt quân Chiêm Thành phía Nam đã làm cho khoa học và nghệ thuật quân sự của triều Trần đạt được những thành tựu vượt bậc. Dưới đời Trần, các mặt chính trị,kinh tế, văn hóa xã hội đều phát triển cao, tạo nên nền văn hóa đặc sắc của nước Đại Việt thời Trần. Tên tuổi của các vị vua Trần cùng các chiến thắng Đông Bộ Đầu, Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Bạch Đằng … mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.


Bởi những ý nghĩa và giá trị văn hóa lịch sử quý giá trên, khu di tích nhà Trần thuộc xã Tiến Đức, xã Liên Hiệp đã được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa di tích khảo cổ học cấp quốc gia. Vì vậy, nó chẳng những thu hút các nhà nghiên cứu sử học, các nhà văn hóa mà còn là một điểm du lịch có giá trị đặc biệt, là nơi liên quan đến cội nguồn dân tộc luôn luôn hấp dẫn du khách trong và ngoài nước về thăm.




Khu di tich các vua Trần, đền thờ các vị vua ở Thái Bình

Thứ Ba, 11 tháng 11, 2014

Du lịch miền Tây: đừng quên ghé miệt vườn, chợ nổi


 


Miệt vườn tiêu biểu cho hình thức sinh hoạt vật chất và tinh thần cao nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (chúng ta từng nghe nói về vườn, công tử vườn, bắp vườn, nhà vườn,…) Cho nên đã phát sinh câu ca dao:


Mẹ mong gả thiếp về vườn,


Ănbông bí luộc, dưa hường nấu canh.


 


Quả thực miệt vườn là nơi trù phú, khoáng đãng, trong lành và mang lại lợi ích kinh tế.Dưỡng già, sống những ngày hưu trí ở miệt vườn là thong dong nhất.


        Đã là sông nước miền tây thì tất nhiên không thể bỏ qua sự chằng chịt của những dòng kênh, rạch.Với hơn 54,000km chiều dài sông rạch, vùng châu thổ sông Mê Kông, miền tây Nam Bộ có một nền văn minh văn hoá sông nước đặc trưng không nơi nào ở Việt Nam có được, đặc biệt là những chợ nổi trên sông đã có tuổi hàng mấy trăm năm từ khi khai hoang lập đất với hình ảnh những con thuyền đủ kiểu dáng.


Sông mẹ Mêkông, đổ vào nước ta với hai nhánh chính là sông Tiền, sông Hậu, rồi sông sinh ra hàng trăm sông con, chia nhỏ ra thành hàng ngàn con rạch, chia nhỏ nữa cơ man những con xẻo, khóm, mương, ngòi… Cả một hệ thống sông nước chằng chịt như mạng nhện đã tạo cho vùng châu thổ sông Mêkông, miền Tây Nam Bộ một nền văn minh, văn hoá sông nước đặc biệt.Và phương tiện giao thông không gì khác ngoài các loại thuyền, mà kiểu dáng, tên gọi cũng phong phú như một bộ sưu tầm trong bảo tàng cuộc sống sông nước miền này. Thuyền ở đây không chỉ là phương tiện giao thông, mà mỗi chiếc còn như là một căn nhà nổi di động trên sông, chở cuộc đời số phận con người qua năm tháng. Thuyền ở miền Tây Nam Bộ được gọi theo nhiều cách khác nhau tùy theo hình dáng: Ghe, xuồng,… phân biệt theo loại của mỗi vùng sông. Như vùng sông từ Long An đến An Giang, xuồng có lườn tròn để dễ lướt trên lục bình (bèo tây); Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau xuồng lườn phẳng, hay còn gọi xuồng ba lá do có 3 tấm gỗ ghép vào, dùng lướt sông rộng được nhanh.




Du lịch miền Tây: đừng quên ghé miệt vườn, chợ nổi

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

Đến thăm Làng nghề rượu Bàu Đá


Vị trí: Làng rượu Bàu Đá thuộc địa phận thôn Cù Lâm Bắc, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.


Đặc điểm: Đây là nơi chế biến ra loại rượu thơm ngon nổi tiếng, sánh ngang với các sản phẩm rượu nổi tiếng khác của Việt Nam.


Từ Tp. Quy Nhơn, theo quốc lộ 1A khoảng hơn 10km về hướng bắc, du khách sẽ đến huyện An Nhơn. Đi tiếp theo quốc lộ 19 khoảng 10km nữa về hướng tây, du khách sẽ tới xã Nhơn Lộc.


Xã Nhơn Lộc - quê hương của đặc sản rượu Bàu Đá, loại rượu từng được thi sĩ Tản Đà xứng tụng là “đệ nhị danh tửu”, có khoảng hơn 1.000 hộ nấu rượu trong lúc nông nhàn và vào các ngày lễ tết. Riêng thôn Cù Lâm Bắc có khoảng vài chục hộ sinh sống chủ yếu bằng nghề nấu rượu.


Theo tương truyền, thuở xưa có một người phụ nữ tên Đấu quê ở huyện Tây Sơn (Bình Định), lấy chồng về làng Bàu Đá và đem theo nghề nấu rượu gia truyền. Để có được rượu ngon, bà đã phải dùng nước đựng trong bàu của gia đình mình để nấu rượu, bởi vậy mà rượu mới thơm ngon và có hương rất riêng, khác hẳn các loại rượu khác. Sau khi bà mất, bà đã để lại công thức nấu rượu gia truyền cho người dân trong làng. Để tưởng nhớ công ơn của bà, người dân làng Bàu Đá đã lấy tên bà để đặt tên cho thứ rượu tuyệt hảo này, nhưng để không phạm huý, người ta đã gọi lái sang là Bàu Đá (bà Đấu).


Theo các lão làng có kinh nghiệm lâu năm trong nghề nấu rượu Bàu Đá cho biết, để có một nồi rượu thơm ngon, người ta phải dùng gạo trì để nấu, mỗi mẻ là 5kg gạo, nấu đúng 6 tiếng đồng hồ và chỉ cất được từ 2,5 – 3 lít rượu.


Về đồ nghề làm rượu, người ta sử dụng củ tre có hình cong, ruột đục rỗng để làm ống dẫn rượu từ lò ra chum. Chum đất hứng rượu phải được bịt kín để tránh rượu bay hơi. Trong thời gian nấu, thông thường người ta chỉ để lửa liu riu, tuy nhiên, vẫn phải thường xuyên lắng nghe giọt rượu nhỏ nhanh hay chậm để thêm hay bớt lửa. Chính vì cách nấu cẩn thận này mà rượu Bàu Đá có hương vị rất tinh khiết và đậm đà.


Hiện nay, rượu Bàu Đá Bình Định đã và đang được người tiêu dùng trong tỉnh, trong nước và du khách nước ngoài rất ưa chuộng vì chất lượng rượu không thua kém những sản phẩm rượu nổi tiếng khác như: Rượu làng Vân (Bắc Giang), rượu Sán Nùng (Lào Cai)… Để sản phẩm rượu BàuĐá ngày càng nổi tiếng hơn, xã Nhơn Lộc đã đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng, các khu bán đồ lưu niệm phục vụ khách tham quan, đặt biển hướng dẫn đến làng nghề trên quốc lộ 1A, quốc lộ 19 và tỉnh lộ 636B; đồng thời, phát triển làng nghề dưới hình thức làng nghề du lịch sinh thái.


 




Đến thăm Làng nghề rượu Bàu Đá

Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

Các di tích lịch sử văn hóa triều đại Tây Sơn Nguyễn Huệ


 


Nhạc trống Tây Sơn:


Xuất thân từ quê hương nổi danh về võ, nổi tiếng về tuồng hát Bình Định, vua Quang Trung rất ham văn chuộng võ và có tâm hồn nghệ sĩ. Ông đưa nhạc vào võ; dùng nhạc võ để xung trận qua những tiếng trống mà người ta gọi là nhạc trống, một hình thức quân nhạc thời trung cổ. Từ đó “Trống Tây Sơn’’ nổi danh trên đất nước và lưu truyền mãi cho tới ngày nay.


Trống Tây Sơn là dàn trống 16 chiếc lớn nhỏ. Khi đánh lên nghe thật hào hùng khích động, như hun đúc tinh thần chiến đấu và thúc giục quân lính lao vào trận chiến. Khi biểu diễn thì chỉ cần một người có thể đánh 16 trống, tùy theo nhịp điệu và bộ điệu. Khi tập luyện, người tập đứng trên hai khúc gỗ tròn lớn gấp đôi quả bưởi. Đôi chân phải điều khiển hai khối tròn đó một cách nhanh nhẹn; còn cùi chỏ, bàn tay và vai đều được sử dụng để đánh trống theo nhịp điệu của đường quyền. Người đánh phải dùng thế võ côn quyền mới đánh được nhiều trống. Khi ra trận thì chỉ dùng hai trống đặt trên xe đẩy. Hai dùi trống không chỉ dùng để đánh trống thúc quân mà còn là khí giới giết địch.


Bến đò Đại Nài, nơi truyền hịch gọi đò của vua Quang Trung :


Bến đò Đại Nài ở xã Thạch Hòa hiện nay, cách thị xã Hà Tĩnh khoảng 3 cây số về phía Đông Nam. Sông ở đó rộng, hai bên bờ là bến cát, dễ qua lại. Bên khúc sông này có làng dân chài gọi là Vạn Nài. Cụ Dương Lung ở xã Thạch Khê, huyện Thạch Hà đã cung cấp một văn bản chữ Nôm, nguyên văn Hịch gọi đò mà người ta cho là của vua Quang Trung. Hịch này được truyền ra trong một đêm cuối tháng 12 năm 1788, khi đại quân Bắc tiến diệt Thanh phải dùng bến đò Đại Nài.


“Ngang thiên chi tường


Bùng binh chi quân


Khẩn đáo Bắc Hà


Tảo trừ Thanh Tặc


Đại binh chi tề tựu giang biên


Yếu đắc tốc hành cấp hạn


Sở tại chi quan,


Giang biên chi dân


Tốc bát giang thuyền,


Giải thanh bề bề bộn bộn


Bất lai tức trảm trảm, thu tru,


Tư truyền.”


Nghĩa là:


Tướng ngang trời,


Quân trùng điệp,


Phải kịp đến Bắc Hà.


Để quét sạch quân Thanh


Tất cả đã đến sát bờ sông


Cần đi ngay cho kịp.


Quan sở tại.


Dân hai bên bờ sông,


Nhanh chèo thuyền đến,


Chuyển kịp quân sang cho khỏi bề bộn.


Ai chống truyền lại sẽ bị chém đầu.


Nay truyền.


 




Các di tích lịch sử văn hóa triều đại Tây Sơn Nguyễn Huệ

Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

Mộ bác sĩ Yersin tại Nha Trang


Dừng chân trên quốc lộ 1A ngay cột km 1473, nơi cách Đà Lạt 191km và cách Nha Trang 20km, bạn sẽ thấy ngay tấm biển đề “Khu mộ Bác sĩ Yersin” (mặt bên kia ghi dòng chữ Pháp “Tombeau du Dr. Yersin”). Rẽ vào 800m theo hướng mũi tên là đến mộ “Ông Năm Yersin”, nằm trên ngọn đồi nhỏ ở Suối Dầu thuộc xã Suối Cát, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.


Đi theo con đường mát rượi bóng cây phượng vĩ, keo lá tràm sẽ gặp một đoạn đường lát đá dẫn vào cổng khu mộ của con người được xem là ân nhân của nhân loại này. Lối đi lượn hình cánh cung rợp bóng cây canh-ki-na dẫn đến một ngôi mộ rất đỗi đơn sơ, lặng lẽ quanh năm nghe gió hát trên những vòm cây. Một nhân cách lớn yên nghỉ trong ngôi mộ nhỏ với dòng chữ giản dị: “Alexandre Yersin 1863-1943”.


Ông tên họ đầy đủ là Alexandre John Emil Yersin, người gốc Pháp, sinh tại Thụy Sĩ. Ông được mệnh danh là “Người vẽ lại bản đồ y học thế giới” với công trạng được ghi trên tấm bia nơi đầumộ ông: “Phát hiện độc tố bệnh bạch hầu năm 1888. Thám sát lần đầu cao nguyên Lâm Viên năm 1893 giúp thiết lập nên thành phố nghỉ mát Đà Lạt. Tìm ra vi trùng bệnh dịch hạch năm 1894 và điều chế huyết thanh chữa trị. Sáng lập Viện Pasteur Nha Trang năm 1895”. Nhờ phát kiến của ông, y học thế giới đã tìm được các phương pháp điều trị một số bệnh liên quan. Văc-xin và se-rum do chính ông điều chế được tại Nha Trang đã cứu được rất nhiều nạn nhân dịch hạch trên toàn thế giới.


Ông có công di thực cây cao su từ Brasil vào trồng tại Việt Nam năm 1897, xây dựng đồn điền canh-ki-na đầu tiên ở Việt Nam năm 1917 để sản xuất ký ninh chữa bệnh sốt rét. Ông lập Trại chăn nuôi Suối Dầu để điều chế huyết thanh và nghiên cứu khoa học trong những năm tháng sống ở Khánh Hòa. Người dân địa phương gần gũi ông đều gọi ông một cách trìu mến là Ông Năm Yersin. Ngoài việc thờ ông ở chùa Linh Sơn gần đó, bà con còn lập một miếu thờ có dạng chùa Một Cột bên cạnh mộ ông, bốn mùa hương khói theo truyền thống văn hóa tâm linh Việt.


Ngày 28-9-1991, Khu mộ A.Yersin, chùa Linh Sơn và Thư viện A.Yersin (do chính ông sáng lập và hoạt động đến ngày nay tại Viện Pasteur Nha Trang), đã được xếp hạng cụm di tích lịch sử – văn hóa quốc gia. Thư viện A.Yersin đã được Bảo tàng Pasteur (Pháp) và Viện Lịch sử y họcLausanne(Thụy Sĩ) viện trợ xây dựng thành Bảo tàng A.Yersin.


Ông qua đời tại nhà riêng ở Nha Trang năm 1943. Mặc dù ông muốn được chôn tại Suối Dầu với đám tang giản dị, không điếu văn, nhưng rất đông người đã đến đưa tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Khách hành hương mỗi khi thắp một nén nhang, đặt một vài cành hoa lên ngôi mộ nhỏ, cảm thấy chạnh lòng giữa cảnh quạnh hiu, hoang vắng. Trái tim con người vĩ đại đã vĩnh viễn ngừng đập, nhưng những gì ông để lại cho đời vẫn mãi gõ nhịp trong trái tim nhân loại.


Điểm đặc biệt là trước khi chết ông yêu cầu hãy đặt ông nằm sắp người để ông có thể ôn lấy vùng đất Nha Trang này-quê hương thứ hai của ông.




Mộ bác sĩ Yersin tại Nha Trang