Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2014

Chức năng và nhiệm vụ các phòng ban trong Công ty Vietrantour


- Phòng Tài chính-kế toán


+ Nhiệm vụ:Phòng tài chính – kế toán thực hiện hạch toán kế toán; cân đối sổ sách, phân tích và lập kế hoạch tài chính.


+ Chức năng:Tham mưu cho giám đốc thực hiện đúng chế độ và các quy định về quản lý nguồn vốn, quản lý tài sản, quản lý các quỹ; kế hoạch hạch toán, chế độ kiểm toán và các chế độ khác do nhà nước quy định; thống kê, kế hoạch kinh doanh dài hạn và ngắn hạn; chịu trách nhiệm về tính xác thực và hợp pháp của hoạt động tài chính hàng năm, các dự án đầu tư và phát triển; kiểm tra hóa đơn, chứng từ thu chi, việc thanh quyết toán tour một cách đầy đủ chính xác kịp thời và trực tiếp thanh toán trong công ty và khách hàng; phân tích lỗ, lãi trong kinh doanh, đề xuất các biện pháp quản lý tài chính doanh nghiệp; thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định; thực hiện các nhiệm vụ khác mà giám đốc giao.


  • Phòng kinh doanh (thị trường marketing)

+ Chức năng:Tham mưu cho giám đốc về lập kế hoạch lựa chọn thịtrường, các cải tiến về dịch vụ cho phù hợp với nhu cầu thị trường


+Nhiệm vụ:


Nghiên cứu thị trường trong nước và ngoài nước, xây dựng và quản lý hệ thống thông tin, mạng nội bộ, xây dựng quản lý nội dung trang Web, tuyên truyền quảng cáo, quan hệ công chúng


  • Phòng Inbound

+ Chức năng:Quản l‎í điều hành mọi hoạt động của thị trường quốc tế.


+Nhiệm vụ:Thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch. Tổ chức khai thác nguồn khách, bán các chương trình du lịch, dịch vụ du lịch cho khách du lịch vào Việt Nam và nối các chương trình du lịch sang các nước khác (nếu có).


  • Phòng Outbound

+ Chức năng:Quản lí mọi hoạt động của thị trường du lịch nước ngoài.


+ Nhiệm vụ:Triển khai thực hiện kế hoạch hàng tháng. Tổ chức khai thác và thực hiện các chương trình du lịch đưa người Việt Nam, người nước ngoài cư trú và làm việc tại Việt Nam đi du lịch nước ngoài.


  • Phòng Điều hành hướng dẫn

+ Chức năng:Quản lí các hoạt động điều hành tour, quản lí hướng dẫn viên, dịch vụ vận chuyển(xe ô tô).


+ Nhiệm vụ:Tổ chức thực hiện các chương trình du lịch đúng theo lịch điều tour do các phòng gửi, đảm bảo chất lượng tốt nhất và dịch vụ đúng như yêu cầu của khách và hợp đồng với các đơn vị cung cấp dịch vụ. Cung cấp hướng dẫn viên cho các phòng có liên quan để phục vụ các đoàn khách du lịch.


  • Phòng vé máy bay

Đại lý bán vé máy bay cho hãng hàng không trong nước và quốc tế


  • Cửa hàng dụng cụ thể dục thể thao

Chuyên cung cấp,bán buôn, bán lẻ, kí gửi dụng cụ, quần áo thể thao các loại


  • Các chi nhánh của Công ty có các nhiệm vụ:

+Chi nhánh tại TP.Hồ Chí Minh là đầu mối thu hút khách ở khu vực Miền Nam


+ Chi nhánh tại TP.Đà Nẵng là đầu mối thu hut khách ở khu vực Miền Trung


+ Tại Tuyên Quang kinh doanh cửa hàng cafe, đồng thời gom khách ở khu vực Tây Bắc.


+ Thực hiện các hoạt động xúc tiến cho doanh nghiệp tại địa bàn đặt chi nhánh.


+ Thu thập thông tin, báo cáo kịp thời mọi thay đổi cho lãnh đạo của doanh nghiệp.




Chức năng và nhiệm vụ các phòng ban trong Công ty Vietrantour

Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2014

Những cảnh đẹp ở Khánh Hòa mà bạn không thể bỏ qua


Mũi Đôi(bán đảo Hòn Gốm thuộc vịnh Vân Phong) là điểm cực Đông trên đất liền của Việt Nam. Nơi đón ánh Mặt trời đầu tiên trên toàn lãnh thổ Việt Nam (Đông Dương và cả Đông Nam Á lục địa). Nơi này đã được Bộ Văn hóa Thể thaovà Du lịch công nhận là di tích quốc gia.Tuy nhiên đường ra mũi Đôi rất khó chủ yếu là dốc núi cheo leo chỉ có thể đi được bằng thuyền.


  1. Đầm Nha Phu

Đầm Nha PhuÐầm Nha Phu là tên gọi cả một khu vực rộng lớn, trong đó có những hòn đảo du lịch như Hòn Thị, Hòn Lao, Hòn Sầm, Hòn Đá Bạc (bãi tắm Công chúa), Hòn Lao – đảo Khỉ, Suối Hoa Lan, Khu nghỉ mát Ninh Vân. Đầm Nha Phu rộng gần 1.500ha, tiếp giáp giữa vịnh Nha Trang và vịnh Vân Phong – thuộc tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố khỏang 15 km. Hiện bến cảng du lịch nằm ở địa phận Lương Sơn, xã Vĩnh Lương.Đầm Nha Phu là một trong hai đầm lớn của tỉnh Khánh Hòa vẫn còn hội đủ đặc điểm của một vùng sinh thái quý hiếm với núi rừng, sông suối, biển đảo,…


  1. Thác Yangbay

Thác Yangbaycách Nha Trang khoảng 45 km ở độ cao 100 m so với biển, nằm lọt giữa rừng nguyên sinh màu mỡ và những dãy núi. Yang Bay” theo tiếng dân tộc Răglay có nghĩa “thác nước Trời”. Nằm trọn trong thung lũng có diện tích hơn 570 ha được bao bọc bởi rừng nguyên sinh, Yang Bay đang từng bước trở thành một khu du lịch sinh thái núi rừng.


  1. Bãi biển Đại Lãnh

Bãi biển Đại Lãnhnằm cạnh quốc lộ 1A, cách thành phố Nha Trang 80 km về phía bắc thuộc huyện Vạn Ninhđây là một bải biển đẹp với làng nước trong xanh và bãi cát trăng rất mịn (cát trắng tinh khiết khong lẫn san hô hay sỏi). Phong cảnh Đại Lãnh từ xưa đã được liệt vào hàng danh thắng quốc gia. Năm 1836, vua Minh Mạng đã cho thợ chạm phong cảnh Đại Lãnh vào một trong chín chiếc đỉnh đồng lớn trang trí trước sân Thế Miếu. Mười bảy năm sau, năm 1853, dưới triều Tự Đức, Đại Lãnh có tên trong Từ điển quốc gia do triều đình biên soạn.




Những cảnh đẹp ở Khánh Hòa mà bạn không thể bỏ qua

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014

Đồng Tháp – đậm chất sông nước miền Tây


- Tầng chứa nước thứ V:phân bố ở độ sâu 350 m trở xuống, chất lượng nước tốt, có áp lực cao, nhiệt độ < 36oC. Đây là tầng triển vọng cấp nước cho toàn khu vực. Khu vực nước nhạt tầng V khoảng 3.176 km2, chiếm 94% diện tích toàn tỉnh, trừ khu vực Thường Phước và cù lao Long Khánh.


Theo khu vực, nước ngầm của tỉnh có thể phân chia như sau:


+ Khu vực phía Bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp: nước ngầm ở độ sâu 100 – 300 m. Riêng địa bàn huyện Tân Hồng nước ngầm ở tầng nông 50 – 100 m, có thể sử dụng cho sinh hoạt.


+ Khu vực phía Nam kênh Nguyễn Văn Tiếp và phía Nam sông Tiền: có nguồn nước ngầm dồi dào ở nhiều độ sâu khác nhau.


Nhìn chung, nước ngầm ở tỉnh Đồng Tháp được đánh giá là khá dồi dào; hiện đang bắt đầu khai thác phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt ở đô thị và nông thôn.Tuy nhiên, nguồn nước ngầm của tỉnh đang có nguy cơ bị giảm thiểu về số lượng cũng như chất lượng. Donguồn nước sạch ở các vùng nông thôn vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng nên người dân phải tự khai thác và sử dụng nguồn nước ngầm.Việc khai thác bừa bãi, quá mức, không theo quy hoạch như vậy nếu không được quản lý chặt chẽ sẽ gây ô nhiễm và cạn kiệt nguồn tài nguyên nước ngầm, dẫn đến những sự cố môi trường như: sự xâm nhập mặn vào các tầng nước ngầm, hiện tượng sụt lún bề mặt…


Bảng III.2: Bảng điều tra tổng hợp giếng khoan khai thác tầng sâu































































STT



Khu vực



Chiều sâu



Lưu lượng (m3/nđ)



Số giếng có phép



1



Huyện Tân Hồng



192 – 260



3.820



2



2



Huyện Tam Nông



208 – 360



6.506



18



3



Huyện Thanh Bình



294 – 360



2.250



2



4



Thành phố Cao Lãnh



271 – 378



9.898



20



5



Huyện Cao Lãnh



210 – 380



4.183



14



6



Huyện Tháp Mười



179 – 360



7.736



27



7



Huyện Lấp Vò



282 – 360



3.280



13



8



Huyện Lai Vung



312 – 382



4.672



21



9



Thị xã Sa Đéc



356 – 480



6.735



16



10



Huyện Châu Thành



350 – 422



4.280



9



Tổng cộng



 



53.360



142



Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường, 2006


Trong năm 2007 có 20 giếng khoan được cấp phép. Ngoài ra, cũng trong năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp đã kiểm tra số liệu quan trắc mực nước ngầm trong tỉnh và 2 cụm quan trắc nằm trên địa bàn huyện Lai Vung và huyện Thanh Bình. Kết quả cho thấy dao động mực nước hạ thấp hàng năm ở 2 trạm Tháp Mười và Tam Nông từ 0,1 – 0,2 m; riêng thành phố Cao Lãnh từ 0,4 – 0,5 m. Điều này chứng tỏ việc khai thác nước ngầm tầng sâu hiện nay bước đầu gây ảnh hưởng đến mực nước ngầm. Do đó, để đảm bảo cho việc khai thác nguồn nước ngầm của tỉnh được bền vững, tỉnh cần có chế độ và chính sách khuyến cáo người dân hạn chế việc khai thác nguồn nước ngầm tầng sâu.




Đồng Tháp – đậm chất sông nước miền Tây

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

Đặc điểm sông ngòi, kênh rạch và chế độ thủy văn


Đặc điểm sông rạch, kênh đào


Với120 kmsông Tiền và30 kmsông Hậu cùng với những con sông lớn như sông Sở Thượng và sông Sở Hạ, Đồng Tháp còn có hệ thống khoảng 1.000 kênh rạch lớn nhỏ với tổng chiều dài dòng chảy là 6.273 km. Mật độ sông trung bình: 1,86 km/km2.


- Sông Tiền:là dòng chảy chính chảy qua114 kmchia tỉnh Đồng Tháp thành 2 vùng lớn: Vùng phía Bắc sông Tiền thuộc khu vực Đồng Tháp Mười và vùng phía Nam sông Tiền thuộc khu vực giữa sông Tiền – sông Hậu. Chiều rộng sông biến động trong khoảng 510 – 2.000 m, chiều sâu lòng sông trung bình từ 15 – 20 m, lưu lượng bình quân 11.500 m3/s, lớn nhất 41.504 m3/s, nhỏ nhất 2.000 m3/s.


- Sông Hậu:dài khoảng30 kmtrên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, chiều rộng biến động trong khoảng 300 – 500 m và chiều sâu lòng sông thay đổi từ 10 – 30 m.


- Các dòng chảy chính khác:


+ Hệ thống các kênh rạch ngang: chuyển nước từ sông Tiền vào Đồng Tháp Mười như: kênh Trung Ương, kênh Đồng Tiến, kênh Nguyễn Văn Tiếp… Trong đó, quan trọng nhất là kênh Trung Ương chiếm 40% tổng lượng nước các kênh ngang cấp cho nội đồng.


+Hệ thống các kênh dọc:kênh 2/9, kênh Thống Nhất, kênh Tân Công Chí, kênhTân Công Sính, kênh Phước Xuyên… Trong đó, nước sông Tiền theo kênh 28 – PhướcXuyên lên rất xa, là nguồn bổ sung nước quan trọng cho vùng Đồng Tháp Mười.


+ Hệ thống các tự nhiên:như Sở Thượng, Sở Hạ, Ba Răng, Cần Lố… đã góp phần khá lớn trong việc cấp và thoát nước ở các huyện phía Bắc sông Tiền.


+ Phía Nam sông Tiền:ngoài tự nhiên như rạch Sa Đéc, rạch Cái Tàu Hạ còn có những tuyến kênh quan trọng như kênh Lấp Vò, kênh Mương Khai… nối sông Tiền và sông Hậu.


Chế độ thủy văn


Mùa lũ:kéo dài từ tháng 7 đến tháng 11, do dòng lũ từ sông Tiền, sông Hậu và dòng tràn từ biên giới Campuchia. So với các huyện ở phía Bắc sông Tiền, lũ xuất hiện tại các huyện phía Nam sông Tiền chậm hơn Tân Châu 10 – 20 ngày. Vào tháng 7, khi nước sông dâng cao, nội đồng tích nước, mực nước bình quân cao dần. Những vùng ngập sớm trước ngày 15/8 là huyện Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, một phần huyện Tân Hồng, Cao Lãnh, Tháp Mười. Các vùng còn lại của vùng Đồng Tháp Mười và bờ Nam sông Tiền như Tân Mỹ, Tân Khánh Đông ngập trước ngày 1/9. Các vùng ven sông Hậu ngập từ ngày 1/9 đến 15/9. Cường suất lũ lên từ 3 – 4 cm/ngày, cá biệt có khi lên đến 10 cm/ngày.


Mùa kiệt:bắt đầu không đồng bộ trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, chậm dần từ phía Bắc xuống phía Nam, thường kéo dài từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau, kiệt nhất là vào tháng 4. Trong mùa kiệt, lưu lượng sông Tiền và sông Hậu giảm mạnh nhưng mực nước sông Tiền luôn luôn cao hơn sông Hậu.


Trong điều kiện lũ trung bình (tương đương lũ năm 1999, tần suất 50%), độ sâu ngập lũ lớn nhất khoảng 3,25 m.


- Khu vực ngập sâu trên 3 m: diện tích nhỏ, tập trung ở khu vực Thường Phước (huyện HồngNgự), một phần huyện Tân Hồng.


- Khu vực ngập từ 2 – 3 m: phân bố ở các diện tích thấp của Đồng Tháp Mười như: khu vực Ngũ Thường (Hồng Ngự), kênh Thống Nhất, kênh Tân Công Sính…


- Khu vực ngập từ 1 – 2 m: phân bố phần lớn ở các huyện Thanh Bình, Tam Nông, Tháp Mười, phía Bắc huyện Cao Lãnh và một phần diện tích trũng của các huyện phía Nam sông Tiền (Lấp Vò, Lai Vung).


- Khu vực ngập dưới 1 m: phân bố ở ven sông Tiền, các gò cao của huyện Tân Hồng, phía Nam các huyện Cao Lãnh, Tháp Mười, TP.Cao Lãnh và các huyện phía Nam sông Tiền.


Trong điều kiện lũ lớn (tương đương lũ năm 2000, ứng với tần suất khoảng 4%), độ sâu ngập lũ lớn nhất lên đến4,25 m. Diện tích vùng ngập sâu 2 – 3 m tăng lên rất nhiều. Diện tích của vùng ngập sâu dưới 1 m thu hẹp chỉ còn ở Gò Sa Rài, ở khu vực Kênh số 1 và kênh Hội Đồng Tường (huyện Cao Lãnh) và diện tích ở vùng ven sông Hậu và các huyện phía Nam như Châu Thành và thị xã Sa Đéc.


Thời gian ngập lũ:trong những năm lũ trung bình (1999), phần lớn diện tích ngập trên 4 tháng nằm ở phía Bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp. Hầu hết diện tích còn lại của tỉnh ngập từ 1 – 3 tháng. Diện tích ngậpdưới1 tháng không lớn, nằm ven sông Tiền của huyện Cao Lãnh (giáp với Tiền Giang). Trong năm lũ lớn (năm 2000), thời gian ngập của diện tích nằm phía Bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp kéo dài từ 4 – 5 tháng nhưng thời gian ngập của các khu vực ven sông Tiền, sông Hậu không kéo dài hơn bao nhiêu so với lũ bình thường.




Đặc điểm sông ngòi, kênh rạch và chế độ thủy văn

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014

Bến Ninh Kiều ngọt ngào qua những câu ca


Cũng tại bến Ninh Kiều, du khách có thể tham gia tour đếnchợ nổi Cái Răngvàchợ nổi Phong Điền.Ngay từ tên gọi ta đã biết nét đặc biệt của hai chợ này là mua bán hàng hóa trên sông.


Chợ nổi Cái Răng nằm trên sông Cái Răng, gần cầu Cái Răng cách trung tâm thành phố khoảng 6 km đường bộ. Chợ có bán nhiều loại nông sản, trái cây, hàng hóa , thực phẩm… Đến đúng giờ hoạt động (từ tờ mờ sớm đến khoảng 8-9 giờ) du khách có thể thấy rất nhiều ghe xuồng tấp nập trên sông, mỗi ghe có dựng một cây cao, trên đó người ta treo những loại hàng hóa mà mình bán gọi là cây “bẹo”. Vì thế không cần phải hỏi ghe có bán thứ mình cần hay không mà chỉ cần nhìn vào cây bẹo thì đã biết. Điều đặc biệt nữa là chợ còn bán cả hủ tiếu, phở, hay quán nhậu nổi…


Còn chợ nổi Phong Điền nằm cách trung tâm thành phố khoảng 17 km về phía Đông Nam. Chợ thường nhóm vào khoảng 4-5 giờ sáng và đến 7-8 giờthìtan dần. Tương tự như chợ nổi Cái Răng nhưng hàng hóa ở đây phong phú hơn, có cả những vật dụng sinh hoạt, công cụ lao động, xăng dầu cho ghe xuồng… Chợ còn có sẵn hàng chục tàu đò, vỏ lãi sẵn sàng đưa du khách tham quan chợ nổi, chủ đò có thể kiêm luôn vai trò thuyết minh, hướng dẫn khách tham quan.


Trở lại với bến Ninh Kiều, cáchnơi đây chưa đầy 1km, sát cầu Cần Thơ là khu du lịch sinh thái Phù Sa. Được xây dựng tại bãi bồi Cồn Ấu, diện tích khoảng30ha. Tại đây có hệ thống nhà nghỉ với nhiều tiện nghi hiện đại dược bao quanh bởi những thảm cỏ và những khóm hoa nhiều màu sắc. Nhà hàng Phù Sa với sức chứa 500 khách là nơi hoàn hảo để tổ chức tiệc cưới, sinh nhật … với nhiều món ăn cầu kì, mới lạ. Bên cạnh đó, dukhách còn có thể chơi nhiều tròchơi rất hấp dẫn, vui nhộn như: moto nước, cano kéo dù bay, cano kéo bè chuối, cano dã ngoại, lướt ván, bơi xuồng, câu sấu…




Bến Ninh Kiều ngọt ngào qua những câu ca

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

SƠ LƯỢC VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ


Điều kiện tự nhiên:


Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long, phía Tây sông Hậuvà nằm trong tam giác du lịch:An Giang-Cần Thơ- Kiên Giang.Phía bắc giáp các tỉnh An Giang, Đồng Tháp; phía tây giáp Kiên Giang; phía nam giáp Hậu Giang và phía đông giáp Vĩnh Long. Diện tích khoảng 1.4 nghìn km2. Cũng như các tỉnh khác trong khu vực, Cần Thơ có hệ thống kênh, ngòi chằng chịt thuận lợi cho giao thông, mua bán hàng hóa. Trên địa bàn còn có quốc lộ 1A chạy qua tạo nhiều điều kiện để phát triển các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội …


Xã hội:


Dân số Cần Thơ trên 1.154nghìnngười, thu nhập bình quân1.222 USD/người/năm(2007), bao gồmcác dân tộc:Kinh – Khmer -Hoa,dân thành thị chiếm 49.9%.Cần Thơ là trung tâm giáo dục của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với nhiều trường đại học, cao đẳngvàtrang thiết bị hiện đạinhư: ĐH Cần Thơ, ĐH tại chức Cần Thơ, ĐH Tây Đô, Cao đẳng Cần Thơ, Cao đẳng Kinh tế Kĩ Thuật Cần Thơ … tổng cộng có khoảng 47.000 sinh viên (2007).




SƠ LƯỢC VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

Hạ Long- nhìn từ góc nhìn thực tế


Nguồn nước ở thành phố Hạ Long có nhiều hạn chế, đặc biệt khó khăn về mùa khô. Nguồn nước mặt phụ thuộc vào mưa, bình quân 1800 đến 2000mm/năm, nhưng do địa hình dốc, nước đổ thẳng xuống biển. Nguồn nước ngầm trữ lượng không lớn. Trữ lượng cấp A: 3400m3, cấp B: 3430m3, cấp C: 13796m/ ngày đêm. Hiện khai thácnguồn nước ngầm bằng cách khoangiếng ở độ sâu từ 100 đến 130m, lượng nước khai thác cao nhất 20.626m3/ ngày đêm. Hồng Gai có 5 giếng, trữ lượng khai thác 2000- 3000m3, Bãi Cháy có 1 giếng, trữ lượng khai thác 300- 400m3/ ngày đêm.


*Giá trị về địa chất – địa mạo:


Vào đầu thế kỷ Cambri ( 570-500 triệu năm trước ) Vịnh Hạ Long cơ bản vẫn là vùng lục địa nổi cao, chụi qua các quá trình rửa trôi bào mòn. Đến cuối thế kỷ Cambri vùng này bị nhấn chìm, từ đó Hạ Long với thành vịnh. Trong thời gian các kỷ Odovic và silua ( 500 – 400 triệu năm trước ) khu vực Hạ Long và Đông Bắc Việt Nam cơ bản là vùng biển sâu nằm trong chế độ hoạt động địa máng tích cực, đáy biển có lúc liên tục bị hạ thấp, có lúc bồi tụ bằng trầm tích của địa tầng Cô Tô có cấu tạo phân dịp dày trên (2000m ) chứa nhiều hóa thạch bút đá.


Vào cuối kỷ Silua, khu vực này trải qua pha chuyển động nghịch đảo tạo sơn biến vùng biển sâu trở thành vùng núi uốn ép. Từ cuối Silua và trong Đề – Vôn ( 420-340 triệu năm trước ) khu vực Vịnh Hạ Lonh là một vùng núi chụi quá trình xâm lược bào mòn mạnh mẽ trong điều khiện khô nóng, Hạ Long là một phần của lục địa Katama rộng lớn bao trùm gần lên khu vực biển Đông và thềm lục địa Trung Quốc ngày nay.


Vào cuối thế kỷ Đề- Vôn, do ảnh hưởng của chuyển động kiến tạo Haxim, khu vực Hạ Long và cả vùng Đông Bắc bị nâng cao lên và môi trường biển hoàn toàn biến mất sang giai đoạn cổ sinh muộn ( kỷ cacsbon và décmi ) kéo dài từ 340 – 240 triệu năm trước, chế độ biển nông ấm được thiết lập trở lại kéo dài suốt kỷ cacsbon và gần hết kỷ décmi. Chế độ biển nông đó tồn tại hàng trăm triệu năm đã tích tụ nên tạo thành đá vôi có nguồn gốc hóa học và sinh vật với hệ thống Cát Bà có tuổi cacbon sớm dàu 450m và hệ thống này chiếm ưu thế tuyệt đối. Trên hàng trăm đảo của Vịnh Hạ Long.


Sang thời nguyên đại tân sinh ( 67 triệu năm trước ) Vịnh Hạ Long tồn tại trong môi trường lục địa núi cao do ảnh hưởng bởi các pha tạo sớm, mạnh mẽ. Vào nửa paleogen, chuyển động nâng dần và ổn định, quá trình xâm lược bắt đầu mạnh mẽ. Sau một thời gian bóc mòn hàng triệu năm xâm lược mạnh mẽ đã chia cắt dần bề mặt này thành các mảnh có độ cao tương ứng với các đỉnh núi bây giờ.




Hạ Long- nhìn từ góc nhìn thực tế