Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

Tìm hiểu về Khánh Hòa


Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam. Tỉnh này giáp với tỉnh Phú Yên về hướng bắc, tỉnh Đắk Lắk về hướng tây bắc, tỉnh Lâm Đồng về hướng tây nam, tỉnh Ninh Thuận về hướng nam, và Biển Đông về hướng đông.


Khánh Hòa ngày nay là phần đất cũ của xứ Kauthara thuộc vương quốc Chăm pa. Năm 1653, lấy cớ vua Chiêm Thành là Bà Tấm quấy nhiễu dân Việt ở Phú Yên, Chúa Nguyễn Phúc Tần bèn sai quan cai cơ Hùng Lộc đem 3000 quân sang đánh chiếm được vùng đất Phan Rang trở ra đến Phú Yên đặt dinh Thái Khang gồm hai phủ là phủ Thái Khang và phủ Diên Ninh. Đến năm 1831 (năm Minh Mạng thứ 12), Vua Minh Mạng thành lập tỉnh Khánh Hòa trên cơ sở trấn Bình Hòa (dinh Thái khang cũ). Năm1975 hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa hợp nhất thành tỉnh Phú Khánh. Đến năm 1989, Quốc hội lại chia tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa cho đến ngày nay.


Khánh Hòa hiện nay bao gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh (Nha Trang), 1 thị xã (Cam Ranh) và 7 huyện (Vạn NinhNinh Hòa,Diên KhánhKhánh VĩnhKhánh SơnCam LâmTrường Sa) với diện tích 5217,6 km². Một phần Quần đảo Trường Sa (huyện Trường Sa) nằm dưới sự quản lý của tỉnh Khánh Hòa, nhưng bị tranh chấp về chủ quyền bởi một số quốc gia khác.


Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009 thì dân số tỉnh Khánh Hòa là 1.156.903 người, mật độ trung bình 222 người/km².


Khánh Hòa có bờ biển dài hơn 200 km và gần 200 hòn đảo lớn nhỏ cùng nhiều vịnh biển đẹp như Vân PhongNha Trang (một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới), Cam Ranh… với khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình 26C, có hơn 300 ngày nắng trong năm, và nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng khác. Với những lợi thế đó Khánh Hòa đã trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của ViệtNam.


Tỉnh lỵ của Khánh Hòa đặt tại Nha Trang một thành phố du lịch và sự kiện[5 cũng là nơi từng diễn ra nhiều sự kiện lớn nhưFestival Biển (Nha Trang), hay các cuộc thi sắc đẹp lớn như Hoa hậu Việt Nam 2006Hoa hậu Thế giới người Việt 20072010Hoa hậu Hoàn vũ 2008.


 




Tìm hiểu về Khánh Hòa

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

Đời sống kinh tế của người Chăm


Người Chăm định cư trên dải đất miền Trung với đặc điểm địa hình là miền đất hẹp, kéo dài và được cấu tạo bởi ba vùng: Núi – Đồng bằng – Biển cả. Khí hậu nơi đây khắc nghiệt, khô ẩm, nhiều nắng, ít mưa. Điều kiện tự nhiên, địa lí môi sinh đó đã hình thành nên nền kinh tế của người Chăm.


Trong nền kinh tế truyền thống của mình, người Chăm có một nền nông nghiệp phát triển khá sớm. Từ lâu đời họ đã biết đắp đập khai mương để trồng lúa nước mà đến nay vẫn còn các dấu vết các công trình thủy lợi trên dải đất miền trung như: đập Do Linh (Quảng Trị), đập Nha Trinh và đập Marên (Ninh Thuận). Họ còn có kĩ thuật canh tác ruộng nước khá cao. Tùy theo loại ruộng như ruộng gò (hamu tamu), ruộng cát (hamu cwah), ruộng sâu (hamu dhong) mà họ có kĩ thuật canh tác và sử dụng các loại giốngl úa ngắn ngày, cho năng suất cao như loại giống lúa chiêm, lúa mùa (padai bidiên, padai halim, paday ia ok, padai kuprok…). Do đó không phải ngẫu nhiên mà người Trung Quốc và người Kinh đều du nhập giống lúa của người Chăm mà họ thường gọi là “lúa Chiêm”.


Bên cạnh làm ruộng người Chăm còn là những người làm vườn giỏi. Họ trồng nhiều hoa màu và cây ăn trái như ngô, khoai lang, đậu xanh, đậu nành, chuối, dừa, hồ tiêu… Nhờ đó mà dân cư có hoa quả và ăn rau xanh 4 mùa. Bên cạnh nghề nông, người Chăm còn biết khai thác những khu rừng lớn có các loại gồ mun, trầm hương, vỏ cây làm thuốc nhuộm… rất được ưa thích trên thị trường. Họ cũng biết khai thác tài nguyên khoáng sản ở xứ họ để đem bán ở xa. Người Chăm còn làm nghề biển, họ là những thủy thủ can trường, là những người buôn bán giỏi. Những chiếc thuyền buôn của họ thường vượt biển khơi đi đến hải cảng Trung Quốc và có mối quan hệ với các nước Java trong thời cổ trung đại.


Nói chung kinh tế truyền thống của người Chăm bao gồm cả nghề nông, nghề đi biển và khai thác rừng. Ba hình thái kinh tế đó đã góp phần làm cho đời sống kinh tế Chăm phát triển phồn thịnh và hiện nay còn in dấu ấn đậm nét trong lễ hội Chăm. Tuy nhiên ngày nay, một số ngànhkinh tế truyền thống đã bị mất đi. Hiện nay người Chăm không còn làm nghề biển. Tuy một số làng Chăm ở Ninh Thuận như Bỉnh Nghĩa, Tuấn Tú vẫn còn sống gần biển nhưng họ không làm nghề biển mà lại quay lưng với biển. Đa số (khoảng 95%) người Chăm Ninh Thuận ngày này sống bằng nghề nông, và một số ít làm nghề chăn nuôi và khai thác rừng. Đến nay họ vẫn còn phát huy truyền thống làm lúa nước và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Hoạt động nông nghiệp vẫn là nền kinh tế chủ đạo trong đời sống kinh tế chủ đạo trong đời sống kinh tế của người Chăm hiện nay.


 




Đời sống kinh tế của người Chăm

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

Nét văn hóa trong chiếc khăn đội đầu (tanrak)của người Chăm


Khăn đội của phụ nữ Chăm thường dệt bằng vải thô màu trắng , xanh, đỏ,vàng… Khăn có kích thước (129cm x 32cm), có dệt loại hoa văn quả trám, cùng màu phủ kín lên mặt vải, khăn đội đầu của người Chăm hồi giáo Bà Ni thường màu trắng, có may thêm cạp vải hoa văn theo dọc đường biên của khăn gọi là “khăn mbram”. Còn phụ nữ Chăm Bàlamôn bình dân thường thích đội khăn màu trơn, không may cạp vải hoa văn. Ngoài ra phụ nữ Chăm còn có loại khăn choàng vai, và khăn cầm tay màu đỏ và hộp túi vải để đựng trầu cau.


Cách đội khăn của người Chăm là quấn lên đầu, vòng từ sau ra trước, một phần trùm xuống đỉnh đầu, rồi hai mép gặp lại, buông chùng xuống hai tai. Ngày nay việc đội khăn truyền thống chỉ còn lại ở phụ nữ lớn tuổi, còn giới trẻ thì đội nón, chỉ còn đội khăn truyền thống trong những dịp lễ hội.


Trang phục nam giới:


Áo nam giới (aw likey):


Đây là loại áo ngắn (aw lah) truyền thống của người đàn ông Chăm. Áo được may bởi 6 mảnh vải với nhau: mặt thân sau có hai mảnh vải tách rời, rồi họ lại may dính vào nhau tạo thành một đường viền chạy dọc theo sóng lưng (khổ vải khung dệt không cho phép khổ vải quá một mét nên họ phải dùng hai mảnh để may ghép lại): phía thân trước cũng gồm hai mảnh vải ghép lại; và hai bộ phận còn lại là hai vải ống tay may dính vào hai phần nách và phần vai. Áo ngắn chỉ mặt chùng xuống đến mông, xẻ hai bên hông khoảng 20cm. Áo ở phía trước có đường xẻ, đính khuy và hai bên vạt trước có hai cái túi. Cổ áo thường là cổ con, tròn đứng, ôm sát cổ. Áo thường có nhiều màu trắng: trắng, đỏ, xanh, vàng… nhưng không có trang trí hoa văn.


Áo nam giới Chăm còn có một loại áo khác gọi là “aw tah” (áo dài). Áo được dệt bằng vải thô màu trắng, được may ghép bằng nhiều mảnh vải. Áo tah không xẻ thân phía trước, không có hàng khuy mà chỉ xẻ một đường xiên trước ngực, dùng dây để buột thay nút. Áo mặt chui đầu (aw loah) và phủ dài đến đầu gối. Áo này hiện nay không được mặc phổ biến chỉ được mặc trong các nghi lễ.




Nét văn hóa trong chiếc khăn đội đầu (tanrak)của người Chăm

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

Tháp Poshanư, địa danh cổ của người Chăm


Nhóm đền tháp Chăm Pôshanư tọa lạc trên đồi Bà Nài thuộc xã Phú Hải về phía Đông – Bắc cách thành phố Phan Thiết chứng 7km được người Chăm xây dựng từ những cuối thế kỷ VIII đầu thế kỷ IX thuộc phong cách kiến trúc nghệ thuật Hoà Lai – một trong những phong cách nghệ thuật cổ của Vương quốc Chămpa, mà hiện nay những ngôi tháp này còn lại rất ít như một số phế tíchở khu thánh điạ Mỹ Sơn, còn lại nhóm Hoà lai (Phan Rang) nhóm Pôdam (Tuy Phong – Bình Thuận) và tương đối nguyên vẹn là nhóm đền tháp Pôshanư.


Nhóm tháp gồm có 3 tháp : Tháp chính A hơi nhếch về phía Nam, hai tháp phụ là B hơi nhếch về phiá Bắc và C nhếch về  hướng Đông cạnh tháp A. Nội dung của việc xây dựng nhóm tháp trong giai đoạn lịch sử này để thờ thần Shiva ( một trong những vị thần Ấn độ giáo được người Chăm sùng bái, tôn kính) biểu hiện bằng bệ thờ Linga-Yôni bằng đá hiện còn lưu giữ tại  tháp chính. Đến thế kỷ XV người Chăm tiếp tục xây dựng một số đền thờ dạng kiến trúc đơn giản để thờ  công chúa Pôshanư, tương truyền là con vua ParaChanh được nhân dân yếu quý về tài đức và phép ứng xử của Bà đối với người Chăm đương thời. Những cuộc khai quật khảo cổ học từ 1992-1995 đã phát hiện nhiền nền móng của những ngôi đền bị sụp đổ và bị vùi lấp  hàng trăm năm nay, cùng với gạch ngói và một số hiện vật trong lòng các đền tháp có niên đại từ thế kỷ XV. Từ đây tháp có tên gọi là Pôshanư.


Pôshanư là nhòm đền tháp Chăm có vai trò quan trọng trong số các di tích kiến trúc Chăm ở Bình Thuận, từ hình dạng kiến trúc đến kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật trên thân tháp, các vòm cuốn, các cửa chính, cửa giả, trong lòng và lên đến đỉnh tháp. Riêng kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật còn lại ở thân Tháp đủ gợi lên yếu tố thẩm mỹ khá riêng biệt của phong cách Hoà Lai.




Tháp Poshanư, địa danh cổ của người Chăm

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

Tìm hiểu về vùng đất Bình Thuận


 


Bình Thuận là một tỉnh duyên hải cực Nam Trung bộ, phía Đông bắc và Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Bắc và Tây Bắc giáp Lâm Đồng, phía Tây giáp Đồng Nai, phía Tây Nam giáp Bà Rịa Vũng Tàu, phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông.


Tổng diện tích 7.828km2 , dân số 1.169.450 người (2009), có 34 dân tộc anh em sinh sống như: Kinh, Chăm, Gia Rai, Hoa, Cơ Ho, Tày, Chơ Ro, Nùng…


Bình Thuận gồm 1 thành phố Phan Thiết, 1 thị xã La Gi, và 8 huyện: Tuy Phong, Bắc bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Đức Linh, Tánh Linh, Phú Quý.


Địa hình của tỉnh có thể chia thành 3 vùng: vùng rừng núi, vùng đồng bằng và vùng ven biển. Bờ biển dài 192km ( từ mũi Đá Chẹt giáp Cà Ná- Ninh Thuận đến bãi bồi Bình Châu- Bà Rịa Vũng Tàu), có nhiều nhánh núi đâm ra biển tạo nên các mũi: La Gàn, Mũi nhỏ, Mũi Rơm, Mũi Né, Kê Gà, chia bờ biển thành những đoạn lõm, vòm, tạo ra những vùng cửa biển tốt như: La Gàn- Phan Rí, Mũi Né- Phan Thiết, La Gi. Ngoài khơi có đảo Phú Quý diện tích 16,5km2, là cầu nối giữa đất liền với quần Đảo Trường Sa.


Các song chảy qua tỉnh là song La Ngà ( từ cao nguyên Di Linh đổ xuống Bờ Biển Lạc), sông Quao, sông Công, sông Dinh.


Bính Thuận nằm trong vùng nhiệt đới, ít chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc, khí hậu nóng, khô hạn. Nhiệt độ trung bình năm 260-270C, lượng mưa trung bình năm 800- 1.150mm.


Là tỉnh có nhiều rừng . Cong nghiệp chế biến gỗ, chế biến hạt điều và sản xuất hàng thủ công là thế mạnh của tỉnh. Bình Thuận có bờ biển dài, ngoài khơi giàu hải sản như cá thu, nục, ngừ, cơm, mực. Kinh tế bin63 phát triển mạnh, nhất là các lĩnh vực đánh bắt hải sản, sản xuất nước mắm, hải sản đông lạnh, làm muối.


Thành phố Phan Thiết cách thành phố Hồ Chí Minh 200km. Bình Thuận có quốc lộ 1A, đường sắt Bắc- Nam đi qua tỉnh, Quốc lộ 55 đi Bà Rịa- Vũng Tàu, Quốc lộ 28 từ thành phố Phan Thiết đi huyện Di Linh của tỉnh Lâm Đồng.        Có nhiều bãi tắm cát trắng, nước trong xanh sạch s4 cùng với những dãy núi trùng điệp nối những bãi biển nên thơ và những dải đồng bằng bát ngát. Thiên nhiên và con nnguoi72 tạo nên một Bình Thuận có nhiều “cái nhất” như: Đồi cát đẹp nhất, nhà thờ cá voi lớn nhất, đèn biển cao nhất, thanh long nhiều và ngon nhất, tượng phật dài nhất, bãi đá có nhiều hình và màu sắc nhất…tất cả đều khắc họa vẻ đẹp riêng hấp dẫn du khách mọi miền đến với Bình Thuận.


Một số địa diểm du lịch tiêu biểu như: Trường Dục Thanh, hải đang Khe Gà, khu du lịch Tà Cú và chùa Linh Sơn Trường Thọ, bãi biển Đồi Dương, Mũi Né, Đồi cát, hòn Rơm, bàu Sen, Chùa Hang và khu du lịch Cổ Thạch, tháp Poshanư…




Tìm hiểu về vùng đất Bình Thuận

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

Tham quan khu du lịch Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến


Một trong những điểm hấp dẫn khác của khu du lịch Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến là vườn bách thú rộng 12,5ha. Đây là vườn thú mở đầu tiên tại Việt Nam với hơn 100 loài động vật có vú, chim chóc, bò sát và các loài cá cảnh chung sống hài hòa trong một môi trường sinh thái đa dạng. Đến đây du khách sẽ có cơ hội tận mắt chứng kiến những con thú được nuôi thả trong môi trường bán tự nhiên, đặc biệt có những loài quý hiếm lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam như: sư tử trắng, hổ trắng, linh dương sừng xoắn, khỉ sóc Nam Mỹ… Ngoài ra, với vườn thú đêm lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam, du khách có thể quan sát được đời sống, tập tính sinh hoạt, săn mồi vào ban đêm của các loài động vật hoang dã nhờ vào hệ thống đèn ánh trăng tại vườn thú. 


Bên cạnh đó, khu vui chơi giải trí hiện đại với hơn 40 trò chơi từ cảm giác nhẹ nhàng, thư giãn đến trò chơi cảm giác mạnh thử thách tinh thần, từ trò chơi mạo hiểm đến trò chơi khám phá những điều bí ẩn của thiên nhiên có thể đáp ứng mọi nhu cầu của du khách. Hầu hết các trò chơi này đều lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam. Đặc biệt, biển nhân tạo Đại Nam với tổng diện tích 21,6ha bao gồm 2 khu vực: biển nước ngọt và biển nước mặn là nơi thư giãn rất lý tưởng cho du khách. Nước biển mặn Đại Nam được pha chế từ muối biển vùng Vĩnh Hảo – Tuy Phong – Bình Thuận và các khoáng chất hòa tan trong nước biển với độ mặn thích hợp, rất tốt cho sức khỏe. Sóng biển được tạo bằng hơi gió với 9 kiểu tạo sóng vô cùng độc đáo.Các trò chơi nước thú vị dành cho trẻ em, sân chơi thể thao dành cho người lớn cùng với những món ăn hải sản mang đậm phong vị biển, chắc chắn sẽ đem đến cho quý khách những phút vui chơi, thư giản thật thoải mái.


Nằm trong quần thể khu du lịch Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến còn hệ thống khách sạn mang những nét đặc trưng kết hợp của kiến trúc thành Cổ Loa và cung đình Huế, tạo cho du khách có dịp nhìn về quá khứ của cha ông ta thuở ban đầu thời kỳ dựng và giữ nước. Bên cạnh đó, khu mua sắm Đại Nam với diện tích hơn 8.000m² cùng nhiều mặt hàng đa dạng, phong phú sẽ đáp ứng được nhu cầu mua sắm của du khách. 


Với quy mô một khu du lịch như vậy, Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến đang nắm giữ nhiều kỷ lục quốc gia: ngôi đền lớn nhất, khách sạn dài nhất, núi, sông nhân tạo dài nhất, biển nhân tạo rộng nhất, quảng trường lớn nhất, vườn thú có nhiều loại quý hiếm nhất và tốn kém nhất. Đây chính là công trình mang đậm ý nghĩa giáo dục, văn hóa, lịch sử.




Tham quan khu du lịch Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến

Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2014

Những điều bạn chưa biết về xa lộ Đại Hàn


Đây là đoạn đường được mang nhiều cái tên: Xa lộ Đại Hàn, Quốc lộ 1A, đường Xuyên Á


Xa lộ Đại Hàn là đoạn quốc lộ 1A từ ngã ba Thủ Đức (ngã ba Trạm 2) đến ngã ba An Lạc, quận Bình Tân, đi qua địa phận Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương, dài 43,1 km.


Xa lộ này được công binh quân đội Hàn Quốc xây dựng năm 1969 – 1970 sau sự kiện Tết Mậu Thân trong Chiến tranh Việt Nam với tư cách là đồng minh của Việt Nam Cộng Hoà nhằm làm đường vành đai bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhất và Sài Gòn và ngăn cách giữa Sài Gòn với quân cách mạng ở Củ Chi, Hóc Môn.


Hiện nay, đoạn ngã ba Thủ Đức (Ngã ba trạm 2-KDL Suối Tiên) đến ngã tư An Sương của Xa lộ Đại Hàn dài 21,1 km nằm trong tuyến đường xuyên Á nối Thành phố Hồ Chí Minh vàPhnom PenhBangkok. Phần tiếp theo của đường xuyên Á theo quốc lộ 22 qua Củ Chi đến cửa khẩu Mộc Bài tiếp giáp với Campuchia. Tổng chiều dài của đường xuyên Á trong địa phận Việt Nam là 80 km, đoạn trong Thành phố Hồ Chí Minh (đến Củ Chi) dài 43,6 km.


Các khu công nghiệp tập trung hiện nay của Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu nằm dọc theo hành lang xa lộ Đại Hàn (đường Vành đai 2), gồm các khu công nghiệp Tân Tạo, Tân Bình, Vĩnh Lộc, Tân Thới Hiệp, Linh Trung, Bình Chiểu, Thủ Đức và khu công nghiệp Kỹ thuật cao.


Xa lộ Đại Hàn là con đường quan trọng nối liền miền Đông Nam Bộ và miền Tây Nam Bộ.


Quốc lộ 1A:


Quốc lộ 1A (viết tắt QL1A) hay Đường 1 là đường giao thông xuyên suốt Việt Nam. Quốc lộ bắt đầu (km 0) tại cửa khẩu Hữu Nghị Quan(Đồng Đăng- Lạng Sơn) trên biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nó kết thúc tại điểm cuối (km 2301 + 340m) tại thị trấn Năm Căn huyện Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau. Quốc lộ có tên này để phân biệt với Quốc lộ 1B là đường rẽ từ Quốc lộ 1A tại thị trấnĐồng Đăng đi về thành phố Thái Nguyên, để phân biệt với Quốc lộ 1D mới được xây dựng năm 2001 là tuyến đường tránh đèo Cù Mông giáp ranh giữa 2 tỉnh Bình Định và Phú Yên và đi vào nội thành thành phố Quy Nhơn. Chiều dài toàn tuyến Quốc lộ 1D là 35 km.


Quốc lộ 1A có tổng chiều dài khoảng 2354km, đi qua 32 tỉnh, thành phố; chiều rộng mặt đường khoảng 10-12m, rải thảm bê tông nhựa, trên toàn tuyến có khoảng 874 cầu lớn nhỏ với tải trọng 25-30 tấn.


Tiền thân của con đường xuyên Việt này mang tên đường Thiên Lý. Quốc lộ 1A được hình thành từng đoạn qua từng thời kỳ, từ thời Việt Nam bị chia cắt thành Đàng Trong và Đàng Ngoài bên cạnh đường thủy thì con đường này cũng bắt đầu được hình thành. Tuy nhiên phải đến thời nhà Nguyễn sau khi thống nhất đất nước mới tu bổ và hoàn thiện con đường cái quan từ bắc đến nam này, ban đầu đường nhỏ chủ yếu dành cho việc vẫn chuyển người, hàng hóa bằng ngựa. Về sau cùng với sự cai trị của người Pháp con đường được mở rộng, nâng cấp.




Những điều bạn chưa biết về xa lộ Đại Hàn